Phần lớn
học sinh, sinh viên học bằng cách đọc lại vở ghi chép và sách giáo khoa, nhưng
nghiên cứu của các nhà tâm lí học – trong các thí nghiệm trong phòng lab lẫn
thí nghiệm với người học thực tế trong lớp – cho thấy đây là một kiểu học hết
sức kinh khủng. Sử dụng các chiến lược học tập tích cực như thẻ ghi chú, lập sơ
đồ, và tự vấn – là cách học hiệu quả hơn nhiều, đồng thời cần giãn thời gian
học mọi lúc mọi nơi và hòa hợp kiến thức các môn học lại với nhau.
Đó là kết
luận của các nhà tâm lí học Roediger và Mark McDaniel tại trường Đại học
Washington ở St. Louis, Mĩ. Tính chung thì hai ông đã dành ra 80 năm nghiên cứu
sự học và trí nhớ, và đã gói gọn các kết quả nghiên cứu của họ cùng với cây bút
Peter Brown trong tác phẩm Make It Stick: The Science of Successful
Learning.
1. Đừng
chỉ biết chăm chăm đọc lại các ghi chép và sách vở
Từ các
khảo sát, chúng tôi biết rằng phần đông sinh viên, khi họ học, họ thường đọc
lại các yêu cầu và các ghi chép. Phần lớn sinh viên cho biết đây là nguyên tắc
học tập số một của họ.
Tuy nhiên,
chúng tôi biết, từ rất nhiều nghiên cứu, kiểu tái hiện thông tin lặp đi lặp lại
này không phải là cách gì hay đặc biệt để học hay để tạo ra trí nhớ lâu dài
hơn. Nghiên cứu của chúng tôi trên các sinh viên Đại học Washington, chẳng hạn,
cho thấy khi họ đọc lại một chương giáo trình, họ tuyệt nhiên không có thêm
tiến bộ gì so với những sinh viên khác chỉ đọc chương đó đúng một lần.
Lúc bạn
đọc cái gì đó lần đầu tiên, bạn rút ra rất nhiều kiến thức. Nhưng khi bạn đọc
lần thứ hai, bạn đọc với suy nghĩ trong đầu rằng “Tôi biết cái này, tôi biết
cái này.” Cho nên, về căn bản, bạn không còn xử lí thông tin một cách sâu sắc,
hoặc không thu lượm được gì thêm. Thông thường, việc đọc lại là đọc lướt – và
nó có chút xảo quyệt, bởi việc này mang lại cho bạn ảo tưởng rằng bạn hiểu vấn
đề rất rõ, trong khi thực tế có những sơ hở.
2. Tự đặt
cho mình rất nhiều câu hỏi
Một kĩ
thuật hay nên dùng là thay vì đọc xong một lần, bạn hãy tự vấn bản thân, hoặc
sử dụng các câu hỏi ở cuối chương sách, hoặc bạn tự đặt ra các câu hỏi của
riêng mình. Việc hồi phục thông tin đó là cái thật sự mang lại sự học và trí
nhớ vững bền hơn.
Và ngay cả
khi bạn không thể hồi phục nó – khi bạn trả lời sai các câu hỏi – thì nó cũng cho
bạn một chẩn đoán chính xác mình chưa biết cái gì, và điều này cho bạn biết bạn
nên lùi lại và học lại cái gì. Điều này giúp định hướng việc học của bạn hiệu
quả hơn.
Việc nêu
câu hỏi còn giúp bạn hiểu sâu hơn. Ví dụ bạn đang học lịch sử thế giới, và việc
thông thương giữa người La Mã và người Hi Lạp cổ xưa. Hãy dừng lại và tự hỏi tại
sao họ lại trở thành đối tác buôn bán của nhau. Tại sao họ trở thành
người đóng tàu, và tại sao họ học cách đi lại trên biển? Không phải lúc nào
cũng hỏi tại sao – bạn có thể hỏi như thế nào, hoặc cái
gì.
Trong khi
nêu ra những câu hỏi này, bạn đang cố gắng lí giải, và khi làm như vậy, bạn
hiểu rõ vấn đề hơn, và nó dẫn tới trí nhớ và sự học tốt hơn. Cho nên, thay vì
chỉ đọc và hớt váng, bạn nên dừng lại và tự hỏi bản thân những cái giúp bạn
hiểu được vấn đề.
3. Liên hệ
thông tin mới với cái bạn đã biết
Một chiến
lược nữa là, trong lúc đọc lần thứ hai, hãy cố gắng liên hệ các nguyên tắc
trong sách vở với cái bạn đã biết. Liên hệ thông tin mới với thông tin trước
đây để hiểu rõ hơn.
Một ví dụ
là nếu bạn đang học về cơ chế neuron truyền điện. Một trong những cái chúng ta
biết là bạn có một màng chất béo bao xung quanh neuron, gọi là màng bao myelin,
nó giúp neuron truyền điện nhanh hơn.
Cho nên,
bạn có thể ví von điều này, nói ví dụ, với nước chảy trong ống vòi sen. Nước
chảy nhanh trong ống, nhưng nếu bạn đâm thủng ống, thì nước sẽ rò ra, và bạn sẽ
không có dòng chảy như cũ nữa. Và đó căn bản là cái xảy ra khi chúng ta già đi
– các màng bao myelin bị thủng, và sự truyền tín hiệu chậm đi.
4. Phác
họa thông tin ở dạng sơ đồ, hình vẽ
Một chiến
lược hay là vẽ sơ đồ tư duy, hay các mô hình thị giác, hay các sơ đồ tiến
trình. Trong khóa học tâm lí vỡ lòng, bạn có thể vẽ sơ đồ dòng huấn luyện phản
xạ cổ điển. Chắc chắn bạn có thể đọc các bài viết về sự huấn luyện phản xạ cổ
điển, nhưng để thật sự hiểu và có thể viết ra và mô tả các phương diện của nó
trong bài kiểm tra sau này – điều kiện, kích thích, vân vân – một ý hay là bạn
nên trình bày nó dưới dạng sơ đồ.
Bất cứ cái
gì mang lại sự học tích cực – tự bạn lĩnh hội kiến thức – đều rất hiệu quả
trong việc ghi nhớ. Nghĩa là về căn bản người học cần trở nên hòa nhập hơn, bận
bịu hơn, và ít thụ động hơn.
5. Sử dụng
thẻ ghi chú
Thẻ ghi
chú là một cách hay nữa để học. Sử dụng thẻ là thật ra bạn đang kiểm tra lại
chính mình về những cái bạn cho là đúng.
Rất nhiều
sinh viên sẽ trả lời câu hỏi trên thẻ nháp rồi sau đó vứt ra khỏi vở nếu câu
trả lời đó là đúng. Nhưng hóa ra đây không phải là ý hay – việc lặp lại hoạt
động hồi phục trí nhớ mới quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy việc giữ lại thẻ
ghi chép đúng trong vở và bắt gặp lại nó mới là hữu ích. Bạn có thể muốn thực
hành thêm với các thẻ ghi sai, nhưng việc bắt gặp nhiều lần các thẻ ghi đúng
cũng quan trọng.
Việc nhai
đi nhai lại cái gì đó không phải là tệ. Cái tệ là bạn nhai đi nhai lại mà không
suy nghĩ.
6. Đừng cố
nhồi sọ – hãy học thư thái
Rất nhiều
sinh viên học theo kiểu nhồi sọ – họ chờ cho đến phút chót, rồi vào một đêm nọ,
họ “tụng niệm” thông tin như không biết mệt. Nhưng nghiên cứu cho thấy đây
không phải là cách hay để có trí nhớ lâu dài. Nó có thể cho phép bạn qua lọt
bài kiểm tra vào ngày hôm sau, nhưng rồi cuối cùng bạn sẽ chẳng còn nhớ nhiều
thông tin như vậy đâu, rồi vào năm sau, lúc bạn cần thông tin đó cho khóa học
mới thì nó tiêu tán đâu hết rồi.
Chuyện này
vẫn thường xảy ra ở các lớp học thống kê. Sinh viên trở lại lớp sau kì nghỉ hè,
và dường như họ đã quên sạch hết mọi thứ, bởi vì họ đã cố học nhồi sọ cho các
bài kiểm tra.
Cách hay
hơn là nên nới giãn hoạt động tái hiện thông tin. Thực hành một ít vào ngày hôm
nay, sau đó cất thẻ ghi chú vào, rồi lấy chúng ra học tiếp vào ngày hôm sau,
rồi hai ngày sau. Nghiên cứu cho thấy việc nới giãn thời gian học thật sự là
quan trọng.
7. Người
dạy cũng phải thư thái và thiết kế bài dạy đa dạng
Sách giáo
khoa của chúng ta cũng có chứa thông tin dành cho người dạy. Và hệ thống giáo
dục của chúng ta cũng có xu hướng đề cao kiểu trình bày thông tin hàng loạt.
Thông
thường, trong một khóa học ở đại học, hôm nay bạn học một chủ đề, và ngày hôm
sau bạn học một chủ đề khác, rồi ngày thứ ba thì học chủ đề khác nữa. Đây là
kiểu trình bày hàng loạt. Bạn không hề quay lại và tái hiện thông tin hoặc xem
xét lại bài học cũ.
Nhưng cái
then chốt, đối với người dạy, là đưa vấn đề ra trước sinh viên vài ngày hoặc
vài tuần sau đó. Có vài cách để người dạy có thể làm việc này. Tại trường Đại
học Washington, có một số giảng viên nêu câu hỏi hàng tuần, và thường chỉ nêu
vấn đề từ buổi học của tuần đó vào câu hỏi. Bây giờ thì họ đang nêu lại vấn đề
từ hai đến ba tuần trước đó. Một giảng viên tâm lí học dành hẳn thời gian,
trong mỗi bài giảng, để nhắc lại vấn đề trước đó vài ngày hoặc vài tuần.
Việc này
cũng có thể làm tại nhà. Thông thường, trong các khóa học thống kê, bài tập về
nhà được cho theo thể loại y hệt nhau. Sau khi học các tương quan thì bài tập ở
nhà của sinh viên toàn là bài tập tương quan. Rồi tuần sau đó, khi học sang
T-test, thì toàn bộ bài tập đều thuộc dạng T-test. Nhưng chúng tôi nhận thấy
việc rải thưa câu hỏi vào vấn đề đã học hai hoặc ba tuần trước đó thật sự là
cách hay để ghi nhớ.
Và việc
này có thể lồng ghép vào nội dung của chính các bài học. Ví dụ bạn đang học một
lớp lịch sử nghệ thuật. Thời tôi đi học, tôi học về Gauguin, rồi tôi xem rất
nhiều tranh vẽ của ông ta, sau đó tôi chuyển sang học về Matisse, và xem rất
nhiều tranh vẽ của ông này. Sinh viên và giảng viên đều nghĩ rằng đây là cách
hay để học phong cách vẽ tranh của những họa sĩ khác nhau này.
Nhưng các
nghiên cứu thực nghiệm cho thấy không hẳn như vậy. Cách tốt hơn là cho sinh
viên xem ví dụ của một họa sĩ, sau đó chuyển sang họa sĩ tiếp theo, rồi đến họa
sĩ khác, sau đó thì lặp vòng trở lại. Kiểu đan xen, hay hòa trộn, mang lại hiệu
quả học tập tốt hơn nhiều – và sinh viên nhận ra chính xác tác giả của các bức
tranh, nói ví dụ, lúc làm bài kiểm tra.
Và phương
pháp này có tác dụng với mọi loại vấn đề. Trở lại với khóa học thống kê. Ở các
lớp trên, và trong thế giới thực, bạn đâu có phải nói bài toán thống kê mà mình
đang gặp là thuộc loại gì – bạn chỉ cần lọc ra phương pháp để mình sử dụng mà
thôi. Và bạn không thể học được cách làm, trừ khi bạn đã từng trải nghiệm xử lí
một hỗn tạp gồm nhiều loại bài toán khác nhau, và phán đoán xem nên sử dụng
phương pháp gì để giải quyết.
8. Chẳng
có ai là “thiên tài trời sinh”
Tác giả
Carol Dwek tại Stanford có viết một số tác phẩm hấp dẫn về sự học. Theo bà,
sinh viên có khuynh hướng có một trong hai lối nghĩ về sự học.
Một là
kiểu học bất di bất dịch. Nói ví dụ, “Tôi có một năng khiếu nhất định về môn
này – ví dụ như hóa học hay vật lí gì đó – và tôi sẽ học tốt cho đến khi đạt
tới giới hạn đó. Vượt qua giới hạn rồi thì thật khó cho tôi, tôi không học tốt
hơn nữa được đâu.” Hai là lối nghĩ lũy tiến. Lối này cho rằng học là phải sử
dụng các chiến lược hiệu quả, bỏ thời gian ra mà làm việc, và dấn thân vào
trong tiến trình, tất cả giúp bạn dần dần tăng cường khả năng của mình đối với
một môn học nào đó.
Hóa ra thì
lối nghĩ dự đoán được sinh viên sẽ đạt kết quả học tập ra sao. Các sinh viên
với lối nghĩ lũy tiến có xu hướng gắn bó với môn học, có xu hướng kiên nhẫn khi
đối mặt với khó khăn, và có xu hướng thành công trong các lớp học cạnh tranh.
Các sinh viên với lối nghĩ bất di bất dịch thì không có những xu hướng này.
Vì thế,
đối với người dạy, bài học ở đây là nếu bạn có thể nói chuyện với sinh viên và
đề xuất rằng lối nghĩ lũy tiến là mô hình chính xác hơn – và đúng như vậy – thì
sinh viên có xu hướng sẵn sàng hơn để thử nghiệm những chiến lược mới, và gắn
bó với khóa học, và làm việc theo những cách sẽ thúc đẩy sự học tiến bộ. Năng
lực, trí thông minh, và sự học phải gắn liền với cách bạn tiếp cận – hãy làm
việc thông minh hơn, đó là cái chúng tôi muốn nói.
Nguồn: vox.com
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét